Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

Quên lãng sáng tạo. Truyền hình đáng tin cậy thực tế (Bài 1): Ồ ạt mua kịch bản.

Sau đó

Truyền hình thực tế (Bài 1): Ồ ạt mua kịch bản, lãng quên sáng tạo

Thử thách cùng bước nhảy. The Voice (Giọng hát Việt - 2012). Năm 1992. Không phải kịch bản nào mua từ nước ngoài cũng thành công. Mỗi live show loại 1 thí sinh.

Kịch bản na ná SuperStar. Dẫu không phải là đầu tiên. Kịch bản The Voice mua gần 1 triệu USD. Vòng chung kết 9 live show. Bên cạnh đó một loạt chương trình của những nhà sản xuất khác cũng được mua về Việt Nam như: Vietnam’s Next Top Model (2010). Vietnam’s Next Top Model. THTT trên thế giới nở rộ.

Mới lạ. Giám khảo nhận xét thí sinh. Từ những năm 2000 trở đi. Vư?t?l?n?ch?nh?m?nh?(self-improvement/makeover).

Chưa kể là từ mùa thứ hai nhà sản xuất phải chia cho đơn vị bản quyền kinh phí nhận được từ tài trợ). Sự bất thần với những diễn biến tình huống. Không có kịch bản xếp đặt trước. Nhà sản xuất Cát Tiên Sa mua kịch bản Project SuperStar để thay cho phiên bản Tiếng hát truyền hình. THTT tại Việt Nam nở rộ với những game show giải trí như: Bước nhảy hoàn vũ.

Yếu tố lăng-xê mạnh mẽ hơn nhiều so với các chương trình khác. Năm 2006. Tr? chuy?n (talk show)? Trên thế giới. Lục lạc vàng - chương trình THTT được xem là “made in Vietnam” hiếm hoi trong mặt bằng THTT giờ Chạy đua du nhập chương trình Có thể nói Sao Mai - Điểm hẹn (SM-ĐH) 2004 là cuộc thi ca hát mang tính chất THTT đầu tiên trên sóng truyền hình Việt Nam.

Vấn đề là mỗi quốc gia điều khiển sự phát triển đó như thế nào? Món ăn chuộng của thời đại? THTT (reality television) là loại thể chương trình truyền hình phản chiếu những diễn biến của sự kiện. The Winner Is… (Tôi là người thắng lợi - 2013). Một hội đồng nghệ thuật ngồi nhận xét trực tiếp thí sinh.

Khán giả nắm quyền quyết định các thí sinh bằng tin nhắn bầu chọn. Your Face Sounds Familiar (khuân mặt thân quen - 2013). The Voice… Nhiều chương trình đã trở thành “con cưng” của ngành truyền hình giải trí thế giới.

Nhưng chương trình đàn bà thế kỷ 21 (từ kịch bản 21St Century Woman) xuất hiện trên VTV3 năm 2006 đã đem lại cho khán giả khái niệm ban sơ về THTT. Ngôi nhà âm nhạc. Những kịch bản ăn khách nhất được Cát Tiên Sa mua gần hết để đều đặn mỗi năm trình làng một hoặc vài chương trình: Dancing With The Stars (Bước nhảy hoàn cầu - 2010). Điểm đáng nói trong kịch bản này là cũng có hội đồng giám khảo ngồi nhận xét thí sinh; kết quả cuối cùng do khán giả bình chọn.

Just The Two Of Us (Cặp đôi hoàn hảo - 2011). Hình thức THTT khá đa dạng: tư liệu (documentary style) thi thố (elimination). Sự trưởng thành của những nhân vật từ vô danh trở thành người rất nức tiếng - “from zero to hero” (như slogan trong Vietnam Idol)… đã cuốn đông đảo người xem cũng như người tham dự cuộc chơi.

THTT xuất hiện khá lâu (từ 1947 với chương trình Candid Camera do Allen Funt sinh sản tại Mỹ). Đặc biệt nguyên tố tương tác với khán giả đã kéo hàng triệu người hàng đêm ngồi trước màn hình ti-vi để theo dõi. Hợp ca tranh tài. Điều đó cũng đồng nghĩa với một cuộc chạy đua mua kịch bản THTT với tốc độ “xài hàng” ngày một nhanh.

Vietnam’s Got Talent. Nguyên tố tích cực là nó đã nâng cao được trình độ sản xuất và trình độ tổ chức của các nhà sản xuất trong nước. Từ mùa thứ hai nó sẽ giảm nhiệt trước một chương trình mới khác.

X-Factor (dự định 2014). Nguồn ngoại tệ đổ ra nước ngoài cũng khá lớn (theo tìm hiểu của TT&VH Cuối tuần. Và tất nhiên rất khó góp phần xây dựng ngành truyền hình lớn mạnh và mang bản sắc Việt (bởi nhân tố dị biệt về văn hóa là điều nan giải cho việc Việt hóa các kịch bản nước ngoài hiện nay) Hải Long Thể thao & Văn hóa Cuối tuần.

Đầu thập niên 2010. Như một cơn lốc mạnh mẽ làm hàng triệu khán giả nghiêng ngả. Giọng hát Việt… THTT với sự quyến rũ. Song song cũng châm ngòi cho cuộc chạy đua mua kịch bản tiêu khiển “khủng” của nước ngoài.

Tuy nhiên SuperStar ( Ngôi sao Tiếng hát truyền hình ) không thành công như chờ mong. Với các kịch bản THTT mua từ nước ngoài. Nó làm tê liệt sản xuất kịch bản nội địa. Star Academy (Ngôi nhà âm nhạc - 2012).

Chương trình THTT không thuần tuý phản ảnh người thật việc thật mà còn đi sâu vào sự phát triển của nhân vật để hình thành từng serie (chuỗi) chương trình.

Tình huống thật. Những yếu tố tương tác này đã đánh bại các cuộc thi “truyền thống” như Tiếng hát truyền hình.

Got To Dance (Vũ điệu mê say - 2013); Fashion Star (Ngôi sao thiết kế Việt Nam - 2013). Clash Of The Choirs… Và nhìn chung. Tiêu biểu như: SuperStar. Năm 2007 Vietnam Idol xuất hiện. Thảy các chương trình nếu thành công thì phần nhiều cũng chỉ “hot” mùa đầu. SM-ĐH 2004 thành công vang dội. Chương trình The Real Word trên kênh MTV với kịch bản dựa trên những câu chuyện diễn ra trong đời thực được xem là cột mốc đánh dấu bước chuyển biến quan trọng đối với THTT.

Điều này dẫn đến nguy cơ là các nhà sinh sản muốn cạnh tranh thành công thì phải dùng kịch bản mới ngày càng “khủng”. Vietnam’s Got Talen (2011); Clash Of The Choirs (Hợp ca tranh tài - 2012).

Đổi lại. Không như các Ban giám khảo lẳng lặng ngồi nghe và chấm điểm ở nhiều cuộc thi trước đó.

Sự phát triển của THTT trên thế giới đang được xem là một khuynh hướng tất yếu. Có nhẽ sự thất bại của SuperStar làm nhà sinh sản Cát Tiên Sa kiên tâm “phục hận”. Ở Việt Nam. Nhiều chương trình trong số kể trên thành công vang lừng.

Bởi nó thu hút lượng người xem đồ sộ và đem về rất nhiều lợi nhuận cho nhà sinh sản. Sự sống động từ hiện trường. Cặp đôi hoàn hảo. The Voice Kid (Giọng hát Việt nhí - 2013).

Đặc biệt là với những game show giải trí như Pop Idol. Star Academy. Nhưng đến thập niên 1960-1970 THTT thế giới có xu hướng hình thành kịch bản chứ không “ngẫu hứng” theo người chơi nữa. Big Brother (Người giấu mặt - 2013)… Tuy nhiên. Got Talent. Nhưng quan yếu hơn.

Sao Mai. Nhưng giám khảo “sắc” và “sốc” hơn. So You Think You Can Dance (Thử thách cùng bước nhảy - 2012). Càng về sau. Các giám khảo “đấu khẩu” để giành giật thí sinh… Trong những game show thi thố.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét